Linh cữu nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười được quàn tại Nhà tang lễ quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ viếng bắt đầu từ 7g ngày 6/10 đến 7g30 ngày 7/10; lễ truy điệu tổ chức vào 9g, ngày 7/10. Lễ an táng từ 13g cùng ngày tại quê nhà, khu Ma Vang, thôn 1, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười

Trong hai ngày Quốc tang, các công sở, nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi giải trí. Ban lễ tang nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười gồm 39 người, Trưởng ban là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Trước đó, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao sức yếu, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã từ trần hồi 23g12 ngày 1/10/2018, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Treo cờ rũ trong ngày Quốc tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười

Ngày 5/10, Công an Hà Nội cũng đã gửi thông báo phương án phân luồng để đảm bảo an ninh, an toàn và giao thông phục vụ lễ quốc tang nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười.

Cụ thể, từ 6g đến 22g ngày 6/10, cơ quan chức năng hạn chế các ôtô chở hàng từ 500 kg trở lên, ôtô chở khách từ 25 chỗ trở lên (trừ xe buýt, xe thu gom rác, xe giải quyết sự cố) trên một số tuyến đường: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Lê Thánh Tông, Lò Đúc, Nguyễn Công Trứ (đoạn từ Lò Đúc đến Phố Huế), Trần Khánh Dư, đê Nguyễn Khoái, Đê 401, Ngô Thì Nhậm, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân, Phố Huế, Hàng Bài.

Từ 6g sáng, các ngả đường dẫn vào Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông đã được lực lượng chức năng đặt biển cấm để đảm bảo lưu thông cho các đoàn xe đến viếng.
Họ tộc nội ngoại xếp hàng chờ viếng cố Tổng bí thư Đỗ Mười

Ngoài ra, từ 6g30-12g ngày 7/10, Hà Nội hạn chế các loại phương tiện nêu trên hoạt động ở các tuyến đường: Lò Đúc, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Điện Biên Phủ, Chu Văn An, Nguyễn Thái Học (đoạn từ Nguyễn Thái Học - Chu Văn An đến Nguyễn Thái Học - Lê Duẩn), Lê Duẩn, Giải Phóng, Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp.

Hà Nội cũng cấm triệt để các phương tiện trên tuyến đường: Tăng Bạt Hổ, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Công Trứ (đoạn từ Trần Thánh Tông đến Lò Đúc), YecXanh, Trần Thánh Tông, Nguyễn Huy Tự, Lê Quý Đôn (từ Nguyễn Cao đến YecXanh), Nguyễn Cao (từ Lò Đúc đến Lê Quý Đôn), Hàn Thuyên, Hàng Chuối (đoạn từ Hàn Thuyên đến Nguyễn Công Trứ) từ 6g30 đến 22g ngày 6/10 và từ 6g30 -12g ngày 7/10.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng các nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến viếng lễ tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng đoàn Quốc hội đến viếng lễ tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đoàn Chính phủ đến viếng lễ tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
Đoàn lãnh đạo Bộ Quốc phòng do Đại tướng Ngô Xuân Lịch - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đến viếng lễ tang

Cùng thời gian này, tại Hội trường Thống Nhất TP HCM cũng tổ chức lễ viếng, lễ truy điệu nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười.

Treo cờ rũ tại Dinh Thống Nhất trong ngày Quốc tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân dẫn đầu đoàn Thành ủy TP.HCM viếng lễ tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Dinh Thống Nhất
Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân viết sổ tang tại lễ viếng
Đoàn lãnh đạo HĐND TP.HCM do Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Quyết Tâm dẫn đầu đến viếng

Tang lễ nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tổ chức theo nghi thức Quốc tang - Ảnh 20

Tang lễ nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tổ chức theo nghi thức Quốc tang - Ảnh 21
Tang lễ nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tổ chức theo nghi thức Quốc tang - Ảnh 22

Tang lễ nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tổ chức theo nghi thức Quốc tang - Ảnh 23

Tiểu sử nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười

Đồng chí Đỗ Mười (tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống), sinh ngày 2/02/1917; quê quán: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Thường trú tại số nhà 11, phố Phạm Đình Hổ, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1936; vào Đảng tháng 6/1939.

Tang lễ nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tổ chức theo nghi thức Quốc tang - Ảnh 25

Năm 1936, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Bình dân.

Năm 1937, đồng chí tham gia Tổ chức Ái hữu thợ mỏ Hòn Gai.

Năm 1938, đồng chí về quê hoạt động, vào Công hội, vận động phong trào ủng hộ Liên Xô; tháng 6/1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Năm 1941, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, giam ở Nhà tù Hà Đông và Nhà tù Hoả Lò, Hà Nội.

Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, đồng chí vượt ngục Hoả Lò, bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động, được phân công về tham gia Ban khởi nghĩa Tỉnh uỷ Hà Đông, phụ trách phong trào cách mạng huyện Ứng Hoà và Mỹ Đức, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hà Đông.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông.

Đầu năm 1946, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam. Cuối năm 1946, làm Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Nam Định.

Năm 1947 - 1949, đồng chí làm Khu uỷ viên Khu III, Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình, Bí thư Tỉnh uỷ Hoà Bình.

Năm 1950, đồng chí làm Phó Bí thư Liên Khu uỷ, kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Liên khu III, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu III.

Năm 1951 - 1954, đồng chí làm Bí thư Khu uỷ khu Tả Ngạn Sông Hồng, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính và Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn Sông Hồng.

Năm 1955, đồng chí chỉ đạo tiếp quản Khu 300 ngày, Bí thư Thành uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố Hải Phòng. Tháng 3/1955, đồng chí được bầu bổ sung Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1956, đồng chí làm Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp.

Năm 1958, đồng chí làm Bộ trưởng Bộ Nội thương.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960), đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương.

Năm 1967 - 1968, đồng chí làm Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn Thanh tra Chính phủ.

Năm 1969 - 1973, đồng chí làm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước. Năm 1973, đồng chí làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Chủ tịch Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương và chống phong toả Cảng Hải Phòng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976), đồng chí được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách các khối: Xây dựng cơ bản, Công nghiệp, Vật tư, Cải tạo công thương nghiệp và phân phối lưu thông.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3/1982), đồng chí tiếp tục được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách các khối: Xây dựng cơ bản, Công nghiệp, Vật tư.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đồng chí tiếp tục được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, được phân công làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Tháng 6/1988, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), đồng chí tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị và giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Bí thư Quân uỷ Trung ương.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996), đồng chí tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị và giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Bí thư Quân uỷ Trung ương.

Tháng 12/1997, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá VIII, đồng chí xin thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thôi giữ chức Tổng Bí thư; được Ban Chấp hành Trung ương Đảng suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến năm 2000.

Đồng chí là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II; Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá III, IV, V, VI, VII, VIII; Uỷ viên Bộ Chính trị dự khuyết khoá IV; Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá V, VI, VII, VIII; Thường trực Ban Bí thư khoá VI; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ tháng 6/1988 đến tháng 6/1991); Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ tháng 6/1991 đến tháng 12/1997). Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ năm 1997 đến năm 2000). Đại biểu Quốc hội các khoá II, IV, V, VI, VII, VIII và IX.

Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.