Tết kháng chiến Hà Nội vẫn nhiều hoa

Lần đầu tôi cảm nhận được sáng mùng Một Tết có lẽ là năm 68. Năm ấy, ở khu tập thể bộ đội của tôi có gì yên ắng khác thường, cho dù các bậc làm cha vẫn “vào Thành” làm việc, không thể màng đến tục lệ ít đi lại vào sáng sớm đầu năm âm lịch.

Năm 68 là năm đầu tiên Việt Nam DCCH đón năm mới âm lịch theo hệ GMT+7, sớm hơn một ngày so với ngày đầu năm của Tết Cổ truyền theo lịch Bắc Kinh. Có lẽ chữ “Tết ta” đến lúc này mới ứng.

Mọi hoạt động đón xuân năm ấy vẫn diễn ra, nhưng Hà Nội dường như sắt lại trong cảm giác của một chiến thắng không trọn vẹn, vì ngày “Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn” chưa về .. Rồi cả các chị mười tám, đôi mươi cũng bắt đầu “đi B”.

Nếu bộ đội Phòng không không thắng trận cuối cùng “Hà Nội mười hai ngày đêm”, có lẽ những Bà Trứ, Bà Nê... ở cả những “thiên đường lúa gạo”, lẫn vùng “chiêm khê...” sẽ phải sống mãi, để an ủi bọn trẻ sơ tán hay khóc nhè mỗi lúc nhớ nhà. Chúng tôi không biết tên thực của các bà. Họ thường được gọi theo tên con mình cho đến lúc chết, nhiều lúc lại là một di sản.

Vì về sau, có lúc chúng tôi nghe thấy, “Các cậu biết không, anh con trai bà Nê đã hy sinh ngay cả lúc bọn mình còn ở đấy mà chẳng ai biết. Mãi sau này mới có giấy báo tử”... Thời ấy, bọn con trai trong chúng tôi gọi nhau là “cậu, tớ’, lúc sẵng giọng, hoặc không quen biết thì mới “tao – mày”. Chúng tôi gọi bọn con gái là “bạn”, và không nói tục trước mặt các bạn nữ.

Hai ông cháu đi chúc Tết trên phố Hàng Bài ngày Mồng Một Tết. Ảnh Minh Việt
Hai ông cháu đi chúc Tết trên phố Hàng Bài ngày Mồng Một Tết. Ảnh Minh Việt

Lớp chúng tôi đi bộ đội đúng vào lúc cha anh đã thống nhất được đất nước. Những phiên gác đêm lúc Xuân sang dài đằng đẵng, mắt nhìn đăm đắm như muốn xuyên qua những đồi núi giá sương, thấu tới một Tết Hà Nội rực rỡ cờ, hoa. Rồi nhắm mắt lại, thấy Hàng Đào và các phố lân cận biến thành những dòng suối toàn hoa, những dòng người ăn mặc trang nhã.

Hoa nhiều kinh khủng trong cái Tết thời chiến, thanh đạm mà lịch sự của Hà Nội xưa. Có phải vì thế mà cuốn sách về cuộc phòng thủ bất diệt của một Hà Nội xuân 1947 được Nguyễn Huy Tưởng đặt tên là “Luỹ Hoa”?

Nỗi sầu của chúng tôi thời lính trẻ nếu đem lắc trong “đấu” của những người “trai Hà Nội” như tướng Nguyễn Đồng Thoại thật chẳng thấm vào đâu. Các ông đã từng làm thơ gửi vợ, gửi con , trong khi cần vụ đếm từng hạt muối để nêm vào nắm cơm sáng mồng 1 Tết, ở “Tây Nguyên ngày ấy”, sau những trận đánh như Iadrăng ...

Rồi khi “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”, chúng tôi sẽ nếm trải phần nào cái Tết chiến trận của cha anh, khi “hồn tử sĩ gió ù ù thổi”.

“Kẻ rồ dại” mấy ngày Tết đưa con đi học

Sự kiện Liên Xô sụp đổ có thể đã làm cho thế hệ chúng tôi, lần đầu tiên, thấm thía câu thơ khi còn học phổ thông: “Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo. Nhân tình ...”. Cũng liên tưởng bài hát của ABBA “những ước mơ của chúng ta đã chết. Không còn gì ngoài những giấy kẹo vương vãi trên sàn”. Nhưng vẫn còn niềm tin Việt, có phần đơn sơ, duy ý chí vào mối liên hệ vô hình với tổ tiên, nhiều khi chỉ qua chút hơi ấm của bát hương trên bàn thờ.

Tôi sẽ còn nhớ “muốn chết” cái Tết Hà Nội, trong một đợt công tác xuống vùng Sibir của Nga. Hôm ấy tôi co ro trong một khách sạn, trên bàn vương vãi những cánh hoa tuy líp “dáng như tim vỡ” (жёлтые тюльпаны - вестники pазлуки). Những ánh kim của băng giá nhấp nháy, những bông tuyết cọ rin rít vào kính cửa sổ ngăn cách tôi với một dải trắng vô tận, hiện thân của cái lạnh chết người.

Tôi đã tự nhủ không khéo mình chết cóng ở đây. Chết mà chẳng biết tên em gái học lớp 9B năm tôi học lớp 10, một cô bé thường thoăn thoắt đánh bóng chuyền sáu giữa sân trường Chu Văn An rợp bóng cây...

Mồng Một Tết là bước khởi đầu cho “hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ” trong một năm mới tốt lành.
Mồng Một Tết là bước khởi đầu cho “hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ” trong một năm mới tốt lành.

Ít lâu sau tôi sẽ về lại Hà Nội sau nhiều năm ở nước ngoài, để rơi vào một Hà Nội khác. “Hoành tráng” hơn, và cũng ăn tiêu hơn, mê tín kinh khủng, nhất là vào dịp Tết. Lại xuất hiện những kẻ cố “phong lưu đài các” trong ngày Tết, nên nỗi “công nợ bớp bơ”.

Vẫn khá “vô thần”, tôi còn trở nên vô cảm hơn. Ngày hội trường, tôi chẳng còn cố tìm xem em gái tóc dài lớp 9B kia tên là gì. Nhưng đời vẫn như một chuỗi uẩn ức về tình cảm bột phát với những cô gái “không nhìn rõ mặt”, như cảm nhận cái đẹp “bóng câu qua cửa”.

Một di sản của những năm ở Liên Xô cũ là con gái tôi học một trường thuộc một sứ quán Đông Âu ở Hà Nội. Điều này có nghĩa là nhiều năm liền, tôi luôn phải đưa cháu đi học trong tất cả những ngày mà Hà Nội nghỉ Tết. Trong mắt hàng xóm, có thể tôi là một kẻ rồ dại, thậm chí bất hạnh (?)

Nhưng nhờ đó, tôi lại được chiêm ngưỡng Hà Nội hồi nhỏ của tôi. Nhất là sáng mồng một Tết “mịt mù khói tỏa ngàn sương”, khi có thể thả mình trong suy tưởng, chẳng hạn về chữ “đán” (buổi sáng sớm) và chữ “nguyên” (khởi đầu)… Năm mới bắt đầu từ một dư ảnh của Hà Nội ngày xa. Vì không ít người Hà Nội gạo cội cho rằng Thủ đô những sáng ấy trông giống với chính nó của những năm còn thiếu thốn, nhưng, “xuân về xin có một bài ca”.

Thật vậy, “ăn Tết” Hà Nội lúc ấy chỉ có nghĩa “ăn hương ăn hoa”. Tết xưa chỉ thấy mặc áo bông, trấn thủ là cùng, chẳng có áo da, áo khoác lông vũ của cuộc sống tiện nghi nhờ nhập khẩu hôm nay. Rét quá thì dân nghèo thành thị đành mặc “áo đơn áo kép” thôi, như ở nông thôn. Nhưng ngày Tết vẫn thấy ấm áp, chắc nhờ có nồi bánh chưng, và … tình người.

Câu chuyện của Miki

Sáng mồng 1 năm ngoái, “địu” con đi học xong, tôi cất xe lên nhà để tự xông đất. Lên cầu thang, đụng một cô hàng xóm “lâm thời”. Cô có tên là “Miki”, chẳng ai rõ tên Việt của cô. Nuôi hai con chó Tây và Bắc Kinh tên là “Ơ rô” và “Đô la”. Ẩn dưới vẻ tự tin và sành điệu là một cái gì như bất hạnh. Các nguồn tin “đưa chuyện” cho hay cô là một biểu hiện của làn sóng” thuê căn hộ ở riêng” của 9X. Cha mới giàu bốc lên đã ra ở với “vợ nhỏ”, còn mẹ Miki vẫn “dĩ bất biến” tại chính cung, phụng sự cha mẹ chồng.

Miki nhoẻn cười đáp lại lời chúc Tết của tôi. Người Hà Nội hôm nay khác xưa, thường ít chào hàng xóm. Các cô gái mới lớn, lúc nhỏ họ “chào bác”, nhưng hết tuổi teen thì lặng thinh chạy ào qua, liệu có phải là một ánh xạ buồn của câu “ra ngõ gặp gái”?

Đáp lại sự tò mò đầu năm của tôi, Miki chỉ đáp ‘Cháu về nhà bố mẹ”. Rồi chạy ào đi. Sáng mồng một Tết hẳn là ngày duy nhất trong năm em được thấy cả nhà lại quây quần bên nhau, bên ông bà. Tục xoá bỏ tị hiềm ngày Tết và ngày “mồng Một tết cha” chắc sẽ giúp Miki sung sưóng giơ ĐTDĐ tân kỳ lên, để chụp ảnh bố mẹ. Để em còn mong ước bố mẹ lại bên nhau, như ngày nào, theo phong cách của một Hà Nội phảng phất nét văn hoá Pháp thanh khiết, cầu kỳ:

Nous serons tous deux,
Comme des amoureux …

Chúng tôi sẽ luôn kết đôi
Như những cặp yêu nhau …

Người nước ngoài cho rằng ngày Tết của người Việt biểu hiện ở niềm tin vào sự thay đổi của mọi sự vật, hiện tượng trong năm tới theo luật của trời đất, nhưng theo hướng tốt lên. Tín ngưỡng duy linh (animist, muôn vật, muôn loài đều có cốt cách) này, vẫn theo phương Tây, có phần ngây thơ, đầy cảm tính. Nhưng nó vẫn có thể có ích cho thế hệ mới của Việt Nam trên đường tìm hạnh phúc, nhất là khi tiền của và ‘luật chơi” chịu bó tay.

Vì Tết là dịp để trẻ Việt bước vào một thế giới ảo, khác Internet, thì thầm những ước nguyện, và cả những lời hứa sẽ “chăm ngoan”, với khuôn mặt của tổ tiên lờ mờ sau khung kính. Thừa hưởng một tài sản độc đáo là tục thờ cúng tổ tiên, chắc một ngày nào đó, Hà Nội của các thế hệ sau sẽ trở lại là “một thế giới nơi mỗi người hàng xóm là một người bạn” (a world where every neighbour is a friend), vốn là một truyền thống Việt?

Hồn “những người muôn năm cũ” của Hà Nội như lảng vảng đâu đây, ngóng đợi “chim Việt, cành Nam”…