Vì sao số ca bệnh Whitmore tăng lên?

TS. Trịnh Thành Trung đã dành tâm huyết để nghiên cứu về bệnh Whitmore từ năm 2004, làm nghiên cứu sinh về bệnh này trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2010 dưới sự hướng dẫn của GS. Ivo Steinmetz, tại trường Đại học Y khoa Greifswald, CHLB Đức.

Gần đây, khi có nhiều thông tin nói về bệnh Whitmore đột ngột quay trở lại, bùng phát thành dịch do “vi khuẩn ăn thịt người”, “vi khuẩn ăn cánh mũi” gây nên, TS. Trịnh Thành Trung khẳng định người dân nên hiểu đúng, tránh gây hoang mang về căn bệnh này.

Chuyên gia 15 năm nghiên cứu về bệnh Whitmore: Không có chuyện “vi khuẩn ăn thịt người”, “ăn cánh mũi” bùng phát thành dịch như người dân đang hoang mang!  - Ảnh 1
TS. Trịnh Thành Trung và các bệnh nhân mắc bệnh Whitmore. Ảnh: NVCC

“Bệnh Whitmore đã được các nhà khoa học Pháp phát hiện ở Việt Nam rất sớm, cách đây gần 1 thế kỷ. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, hàng nghìn binh lính Pháp và Mỹ đã bị phơi nhiễm và nhiễm bệnh.

Sau ngày giải phóng, điều kiện y tế nước ta còn rất nhiều khó khăn, cùng với sự thiếu thốn các trang thiết bị xét nghiệm vi sinh, bệnh Whitmore đã có thể bị chẩn đoán nhầm thành các bệnh truyền nhiễm khác hoặc nhầm thành các bệnh lao phổi, ung thư phổi, ung thư gan, ung thư tủy xương, ung thư máu, u tuyền liệt tuyến, quai bị (ở trẻ em)...

Đến nay, xét nghiệm vi sinh tại các bệnh viện bắt đầu được quan tâm chú ý, các bác sỹ cũng được cảnh giác về căn bệnh Whitmore này nên bệnh nhân nhiễm bệnh được chẩn đoán đúng.

Ngoài mùa mưa là thời điểm dễ nhiễm thì sự gia tăng về số lượng ca bệnh Whitmore trong thời gian gần đây là vì chẩn đoán đúng, phát hiện ra bệnh nên số lượng ca bệnh tăng lên, chứ không phải bệnh đột ngột quay trở lại và bùng phát thành dịch như một số tiêu đề bài báo nói”, TS. Thành Trung nhận định.

Bệnh Whitmore là gì?

Theo TS. Thành Trung, vi khuẩn gây bệnh Whitmore sống ở trong đất, lây nhiễm sang người qua con đường tiếp xúc trực tiếp các vết trầy xước da với đất nhiễm khuẩn.

Khi đi vào cơ thể, vi khuẩn có thể tấn công các bộ phận của cơ thể, không loại trừ một bộ phận, một cơ quan cơ thể nào. Dạng phổ biến nhất là tấn công cơ quan phổi.

Bên cạnh đó vi khuẩn có thể tấn công gây áp xe cơ quan nội tạng như gan, thận, tim hoặc áp xe ngoài da, áp xe cơ, viêm xương khớp, viêm tuyến lệ, viêm tuyến nước bọt mang tai, viêm tai giữa, viêm màng não, sưng hạch cổ, viêm tuyến sinh dục tiết niệu, viêm tuyến tiền liệt, viêm tinh hoàn…

Chuyên gia 15 năm nghiên cứu về bệnh Whitmore: Không có chuyện “vi khuẩn ăn thịt người”, “ăn cánh mũi” bùng phát thành dịch như người dân đang hoang mang!  - Ảnh 2
Vi khuẩn gây bệnh Whitmore.

Phương thức chung của vi khuẩn Whitmore tấn công gây tổ chức viêm và áp xe ở các cơ quan đều giống với tất cả các căn nguyên vi sinh vật gây bệnh khác.

“Trường hợp vi khuẩn tấn công mũi bệnh nhân vừa qua là một dạng viêm và áp xe ngoài da. Trường hợp này vi khuẩn Whitmore tấn công ở vị trí mỏng yếu (cánh mũi) của cơ thể, kèm thời gian được chẩn đoán đúng bệnh lâu, thời gian được chỉ định điều trị đúng kháng sinh bị chậm, nên tổ chức viêm và áp xe trên cánh mũi này bị vỡ ra dẫn đến làm thay đổi hình dạng cánh mũi.

Vì vậy, không có chuyện “vi khuẩn ăn thịt người” và “vi khuẩn ăn cánh mũi” như một số báo đưa tin”, TS. Thành Trung khẳng định.

Sự thật về căn bệnh đã từng bị lãng quên

Lật lại lịch sử bệnh Whitmore, TS. Thành Trung cho biết, ca nhiễm bệnh đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1925.

Sau đó, bệnh cũng được ghi nhận ở Hà Nội và Huế vào năm 1928 và 1936. Bằng chứng đầu tiên trên Thế giới về sự tồn tại của vi khuẩn gây bệnh Whitmore (Burkholderia pseudomallei) sống ngoài môi trường đất cũng được các nhà khoa học Pháp công bố năm 1937 tại tỉnh Hải Dương và năm 1955 tại các tỉnh Nam Bộ.

Những năm 70 của thế kỷ trước, Whitmore còn có tên gọi là “Vietnamese time-bomb” tức “quả bom hẹn giờ của Việt Nam” nhằm ám chỉ một loại bệnh bị phơi nhiễm tại Việt Nam, sau 1 thời gian dài ủ bệnh (hàng chục năm) rồi mới phát bệnh khi cựu chiến binh Mỹ trở về.

“Sau chiến tranh, rất ít các ca bệnh được phát hiện ở nước ta do sự khó khăn về điều kiện y tế và sự thiếu thốn các trang thiết bị xét nghiệm vi sinh.

Bên cạnh đó, chúng ta còn phải đối diện với nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác khác như sốt rét, lao, HIV, sốt xuất huyết… nên bệnh Whitmore chưa thực sự được quan tâm. Hơn nữa, hầu hết các máy xét nghiệm vi sinh thường quy tại các bệnh viện đều chẩn đoán sai vi khuẩn Whitmore thành các vi sinh vật khác, dẫn đến ít khi chúng ta chẩn đoán đúng được ca bệnh.

Từ đó, Whitmore đã trở thành căn bệnh bị lãng quên dài trong suốt mấy thập kỷ qua”, TS. Thành Trung nói.

TS. Thành Trung cho biết thêm hiện kết hợp với điều tra phân bố vi khuẩn ngoài môi trường, bản đồ dịch tễ học bệnh Whitmore tại Việt Nam đã dần dần hé lộ, minh chứng Whitmore là loại bệnh truyền nhiễm phổ biến ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ ở Việt Nam.

Gần đây, các Hội nghị Khoa học về Vi sinh Lâm sàng và các Bệnh Truyền nhiễm, Hội nghị Hô hấp toàn quốc, Hội nghị Hồi sức Cấp cứu đã không còn vắng bóng các báo cáo nghiên cứu về bệnh Whitmore. Nhiều bệnh viện đã chủ động báo cáo ca bệnh và trao đổi chuyên môn giữa các chuyên khoa tại các buổi sinh hoạt khoa học. Nhiều bác sỹ ở các Khoa Truyền nhiễm, Nội Khoa, Ngoại Khoa, Hồi sức Cấp cứu, Nhi… đã rất cảnh giác với căn bệnh này.

Chuyên gia 15 năm nghiên cứu về bệnh Whitmore: Không có chuyện “vi khuẩn ăn thịt người”, “ăn cánh mũi” bùng phát thành dịch như người dân đang hoang mang!  - Ảnh 3
Một nữ bệnh nhân bị bệnh Whitmore mới đây. Ảnh: BVCC

Kết quả đó mới phần nào cho thấy Whitmore không phải là bệnh hiếm gặp tại Việt Nam như trước đây đã từng suy nghĩ. Theo dự báo của các chuyên gia Quốc tế, mỗi năm Việt Nam có khoảng 10.000 ca nhiễm bệnh và khoảng 5.000 ca tử vong.

Những người làm việc thường xuyên tiếp xúc với đất mà có những biểu hiện khác lạ về sức khỏe như ho, sốt, đau ngực, đau cơ xương khớp, đau ở vùng bụng, mưng mủ ngoài da lâu ngày…cần đến ngay các cơ sở y tế uy tín có xét nghiệm vi sinh để xét nghiệm chẩn đoán đúng bệnh.

Người nguy cơ nhiễm Whitmore cao là người có bệnh tiểu đường, bệnh gan thận mạn tính và người nghiện rượu. Tuy nhiên, bệnh gặp trên cả những người khỏe mạnh bình thường, ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người trưởng thành, trung niên và người già.

Nếu được xét nghiệm vi sinh sớm, phát hiện được đúng bệnh, thì vẫn có phác đồ kháng sinh để điều trị khỏi bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân cần tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sỹ, uống thuốc dự phòng trong khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng để để phòng tái phát”, TS. Thành Trung khuyến cáo.